Chè ngon và cách tăng năng suất, chất lượng chè

Nước chè là thức uống không thể thiếu của người Việt. Một ấm chè ngon luôn giúp câu chuyện thêm lý thú, để mọi người xích lại gần nhau hơn. Đặc biệt, nước ta có 3/4 diện tích là đồi núi với điều kiện khí hậu vô cùng thuận lợi cho cây chè. Đó cũng là lý do cả nước có nhiều vùng chè lớn với những giống chè quý như chè shan tuyết, chè tân cương…. Dưới đây là một số thông tin về chè ngon và cách cách tăng năng suất, chất lượng chè.

Chè ngon ở Việt Nam

che-ngon-2

Chè là thức uống phổ biến, được ưa chuộng ở khắp mọi miền trên cả nước. Nước chè hay nước trà được chế biến từ lá của cây chè xanh (có tên khoa học là Camellia sinensis. Đôi khi chúng cũng được gọi là chè Assam với tên khoa học của một loài phụ là Camellia sinensis assamica. Cây chè ngoài lá để sản xuất thành các loại chè ngon, các loại thức uống tốt cho sức khỏe (chè tươi, trà nóng, trà đá…) thì hạt còn được dùng để ép dầu. Ước tính, mỗi năm nước ta xuất khẩu trung bình khoảng 2.000 tấn chè khô.

Diện tích trồng chè của nước ta là khoảng 125.000 ha và cho sản lượng khoảng trên 1 triệu tấn mỗi năm. Từ xa xưa chè đã mọc tự nhiên và được nhân giống ở các tỉnh miền núi phía bắc như: Hà Giang, Yên Bái, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ… Đến thời Pháp thuộc (vào thập niên 1930) chè được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên vùng Dji Ring và B’Lao. Vùng này ngày sau chiếm địa vị là vựa chè ngon của tỉnh Lâm Đồng.

Khi hái chè người ta phân biệt thành chè ngon loại 1 là chè búp (chỉ chọn toàn búp non của cây chè), loại 2 là chè lá thứ hai, thứ ba. Còn chè lấy từ lá thứ tư, thứ năm thì là nguyên liệu để chế biến thành chè mạn. Ngoài cây chè thông thường, vùng núi phía Bắc nước ta còn có nhiều giống chè ngon, quý hiếm. Tiêu biểu trong số đó là chè tuyết (hay chè shan tuyết) lấy từ những cây chè cổ thụ lâu năm mọc trên núi cao (nhất là ở vùng Hà Giang). Trà shan tuyết Hà Giang có hương thơm tinh tế, vị ngọt hậu, đậm mùi tự nhiên của núi rừng. Đây là một loại đồ uống tốt, vừa có tác dụng giải khát, vừa có tác dụng bồi dưỡng sức khỏe, tăng sức đề kháng với nhiều loại bệnh tật (kể cả bệnh ung thư).

che-ngon-1

Tác dụng dược liệu của chè xanh đã được xác định từ lâu trong các y văn cổ. Chủ yếu là các tác dụng kích thích (stimulant), chống độc (antitoxic), lợi tiểu (diuretic), long đờm (expectorant) và kích hoạt dạ dày (stomachic). Chè ngon còn có tác dụng co (astringent) và tác động như chất làm dịu thần kinh (giảm đau đầu). Nó cũng làm tiêu tan rối loạn thần kinh (digestive disturbances). Lá chè có tác dụng chống viêm dạ dày ruột (gastroenteritis) và viêm gan (hepatitis), diệt trực khuẩn lỵ và amib lỵ (amebic dysentery). Ngoài ra chè ngon còn có hiệu ứng chống xơ vữa động mạch (antiatherosclerotic) và có hoạt tính của vitamin P (theo Leung, 1980).

Duke and Wain (1981) chứng minh nước chè ngon được dân gian dùng để thanh nhiệt (refrigerant), giải độc (antidotal), giảm đau (analgesic), chống viêm (demulcent), trợ giúp tiêu hóa (digestive), lợi tiểu (diuretic), chất làm se (astringent), thông trung tiện (carminative), long đờm (expectorant), tăng tiết sữa (lactagogue), gây mê (narcotic), bổ thần kinh (nervine), trợ tim (cardiotonic), kích thích (stimulant), kích hoạt dạ dày (stomachic)…

Cách tăng năng suất, chất lượng chè

Từ lâu chè ngon của nước ta đã nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế với thương hiệu chè tuyết Hà Giang, chè Đại Từ Thái Nguyên, chè Phú Thọ, chè Mộc Châu…. Tuy nhiên, trong những năm qua, do tác động của những biện pháp canh tác, do sâu bệnh hại và vấn đề sử dụng tràn lan các loại hoá chất bảo vệ thực vật trên cây chè đã làm suy thoái một số vườn chè ngon, ảnh hưởng đến chất lượng của nhiều loại chè. Do đó, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cũng như uy tín của các thương hiệu chè ngon trong nước, chúng ta cần thực hiện những biện pháp kỹ thuật mang tính chiến lược về trước mắt và lâu dài như:

Cần có chiến lược quy hoạch các vùng trồng chè theo từng vùng sinh thái. Trong chiến lược này cần xây dựng quỹ đất, khảo sát thời tiết khí hậu và nông hoá thổ nhưỡng của đất… xem có phù hợp với sinh trưởng và phát triển của các giống chè ngon không. Đồng thời, cần lên kế hoạch việc xây dựng những nhà máy, xí nghiệp chuyên chế biến, đóng gói, đóng hộp… với nhân công chuyên nghiệp, máy móc hiện đại theo tiêu chuẩn mã vạch hàng hoá khi tiêu dùng và xuất khẩu. Có như vậy chè Việt Nam nói chung và các loại chè ngon của từng vùng như chè shan tuyết nói riêng mới đạt được yếu tố cạnh tranh trên thương trường.

che-ngon-3

Bên cạnh đó, hững vườn chè ngon nằm trong quy hoạch trồng mới ở vùng đất đồi dốc cần được kiến thiết theo đường đồng mức và có kế hoạch trồng cây che bóng. Có thể dùng các cây họ đậu có kích thước lớn trồng xen trong nương chè vừa tạo độ che phủ vừa bổ sung nguồn đạm cho đất và chống xói mòn. Những giống chè trồng mới phải được chọn lọc kỹ, dùng những loại có phẩm chất, chất lượng cao như chè shan tuyết Hà Giang, chè Tân Cương… để nhân giống.

Đối với những nương chè đang cho thu hái thì cần hái đúng thời điểm, đúng kỹ thuật (thường 1 tôm 2 lá) không nên thu hái quá muộn sẽ làm giảm chất lượng búp chè. Thu hái quá sớm có thể nâng cao chất lượng búp chè, cho ra loại chè ngon hơn nhưng không đảm bảo được năng suất và ảnh hưởng không tốt tới sinh trưởng của cây chè.

thành phẩm trà shan tuyết, chất lượng số một việt nam
thành phẩm trà shan tuyết, chất lượng số một việt nam

Thời điểm thu hái cần tiến hành đồng bộ trên cả nương chè, không nên thu hái kéo dài. Sau khi thu hái cần tiến hành phơi sấy và thực hiện các công đoạn sao chế, phân loại, đánh bóng chè… càng sớm càng tốt để đảm bảo chất lượng chè. Không nên ủ lâu hoặc chất chè thành từng đống lớn. Nhất là khi thu hái chè gặp trời mưa vì sẽ làm giảm nghiêm trọng chất lượng chè khi chế biến.

Để sản xuất được chè xanh, người trồng chè cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về sử dụng các loại hóa chất trong phòng trừ sâu bệnh hại trên cây chè và các quy định liên quan. Tất cả người trồng và tham gia chăm sóc chè phải được tập huấn, trang bị kiến thức về bảo vệ thực vật cũng như phương pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn trên cây chè.

Biện pháp phòng trừ dịch hại trên cây chè phải theo định hướng phòng trừ tổng hợp (IPM). Tuyệt đối không lạm dụng các các loại thuốc cấm, thuốc không rõ nguồn gốc, thuốc nhập lậu, hoá chất độc hại… để phun trừ các loại dịch hại trên cây chè. Trong trường hợp xảy ra dịch hại cần phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với những hoá chất được phép sử dụng trên cây chè (Quyết định số 88/2001/QĐ- BVTV ngày 5/9/2001).

Cần ưu tiên sử dụng các loại thuốc thảo mộc, thuốc sinh học, thuốc nhanh phân huỷ nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và đảm bảo an toàn cho chất lượng của sản phẩm chè. Tuân thủ đúng thời gian cách ly từ khi phun đến khi thu hái….

Duy trì và phát triển các giống chè ngon như chè shan tuyết Hà Giang không phải vấn đề một sớm một chiều mà đòi hỏi một chiến lược phát triển kinh tế lâu dài, trong đó phải xác định cây chè là cây chủ lực cho từng vùng cụ thể.

Viết một bình luận

Chat Zalo
0936.186.369